Công việc phun vữa cho nhà riêng và công trình dân dụng – Phần 3 (Dành cho công chúng)

Xin chào mọi người

Đây là Enta.

Công việc phun vữa cho nhà riêng và công trình tư nhân – Phần 1 (Dành cho công chúng)

Công việc phun vữa cho nhà riêng và công trình dân dụng – Phần 2 (Dành cho công chúng)

Tôi nghĩ các bạn đã hiểu được các công đoạn từ việc dọn dẹp mặt dốc cho đến việc lắp lưới thép cho đến ngày hôm trước.

 

Lần này, phần chính làThợ phun bê tôngĐúng vậy!

Thợ phun vữa

Dù đều được gọi là công nghệ phun, nhưng cũng có nhiều loại khác nhau.

1. Thợ phun vữa

Trong công đoạn phun vữa thông thường, người ta sử dụng loại vữa có tỷ lệ 1:4.

Tỷ lệ vữa 1:4 có nghĩa là cứ 1 phần xi măng thì có 4 phần cát.

Nói về công thức pha chế theo hướng dẫn thì

Xi măng: 420 kg Cát: 1.680 kg

Hơn nữa, tỷ lệ nước/xi măng nằm trong khoảng từ 45% đến 55%.

Đây là công nhân thi công phun vữa.

Ngoài công thức này ra, ngay cả khi là công pháp phun vữa, thì trong các công trình công cộng cũng hầu như không được chấp nhận.

Tuy nhiên, trong các công trình công cộng có một số loại công việc đặc biệt với hỗn hợp vật liệu đặc biệt, và đó là trường hợp ngoại lệ.

 

Về độ dày lớp phun, đối với các công trình của tỉnh, độ dày từ 7 cm trở lên được coi là lớp thi công chính thức, còn độ dày dưới mức đó được xem là lớp tạm thời.

Xin hãy lưu ý rằng lớp vữa phun trên các tuyến đường tỉnh và các tuyến đường tương tự có độ dày từ 7 cm trở lên.

Tôi nghĩ hầu hết đều dài khoảng 10 cm.

Đối với quốc lộ, độ dày 15 cm được coi là tiêu chuẩn thi công chính thức, và đối với các tuyến quốc lộ cơ bản, phương pháp phun bê tông sẽ được áp dụng chủ yếu.

Độ dày lớp phun

Ngoài ra, độ dày cũng sẽ thay đổi tùy theo điều kiện khí hậu, chẳng hạn như ở những vùng lạnh giá.

 

2. Thợ phun bê tông

Sỏi nghiền sẽ được thêm vào hỗn hợp vữa phun.

Tỷ lệ pha trộn là 1:4:1, và,

Xi măng 1 : Cát 4 : Đá dăm 1

Tỷ lệ nước/xi măng từ 45% đến 55%

 

Điểm khác biệt so với vữa là nó có độ bền cao hơn vữa và có khả năng chống ma sát tốt hơn.

Hơn nữa, do có thêm đá dăm nên giá sẽ thấp hơn.

Nếu phun theo tỷ lệ phối trộn theo thiết kế, tổng lượng xi măng sử dụng sẽ giảm và lượng đá dăm tăng lên, từ đó diện tích phun được sẽ mở rộng.

 

Xét về lâu dài, lý do Bộ Đất đai, Cơ sở hạ tầng, Giao thông và Du lịch chọn bê tông phun làm vật liệu chính là để đạt được sự cân bằng giữa độ bền và chi phí.

Tuy nhiên, nếu nói rằng có sự khác biệt rõ rệt thì thực tế là nó cũng không đến mức có thể nhận ra bằng mắt thường, và,

Tôi nghĩ phương pháp phun vữa linh hoạt sẽ rất tiện lợi khi thi công phun.

Hơn nữa, việc thi công bê tông phun còn có một nhược điểm nghiêm trọng.

Đó là vì khi phun lên, đá vụn sẽ bị bật ra và bay đi đấy w

Vì vậy, ngay cả khi đổ đá dăm theo đúng tỷ lệ, thì một nửa số đá đó vẫn lăn xuống dưới chân dốc.

 

Sẽ tốt nếu nó được phun lên trong tình trạng được bao bọc kỹ lưỡng bởi vữa, nhưng đá dăm lại được thải ra riêng lẻ.

Nghĩ một cách bình thường thì thể tích và tỷ trọng khác nhau nên cũng không thể làm gì khác được, phải không? w

Vì vậy, trong thực tế, lượng đá dăm trong bê tông phun thực ra rất ít. (Ồ? Mình có nên viết điều này không nhỉ?? w)

 

3. Phun vữa sợi và phun bê tông

Đây là phương pháp phun bê tông có chèn sợi thủy tinh mà tôi đã đề cập cách đây vài ngày, không cần thực hiện lớp lót cuối cùng.

Một trong những đặc điểm nổi bật là nhờ việc bổ sung sợi thủy tinh nên sản phẩm ít bị nứt,

Người ta nói rằng loài này có khả năng chống chịu nhất định trước các hiện tượng như đóng băng.

So với lưới thép Las, các sợi được đan theo nhiều hướng khác nhau nên độ bám dính của vữa rất chắc chắn.

 

Ngoài những phương pháp này ra, còn có các phương pháp phun đặc biệt khác, nhưng do các tập đoàn lớn đều nắm giữ bằng sáng chế nên chúng không phổ biến, vì vậy tôi sẽ bỏ qua phần này (cười).

 

Vậy là lần này đến đây thôi w

Chúng ta sẽ tiếp tục vào lần sau.

 

Hẹn gặp lại nhé

Để lại bình luận

Trang web này sử dụng Akismet để giảm thiểu thư rác. Tìm hiểu cách dữ liệu bình luận của bạn được xử lý.